Blogger Widgets

Sử dụng nhãn hiệu chứng nhận “Cà phê Arabica Lang Biang”

IMG_1226Liang biang UBND tỉnh Lâm Đồng đã ra quyết định về việc ban hành quy chế quản lý và sử dụng nhãn hiệu chứng nhận “Cà phê Arabica Lang Biang”.

Đây là nhãn hiệu cà phê thứ 2 của Lâm Đồng sau nhãn hiệu “Cà phê Di Linh”.
Theo đó, quy chế này nhằm tập hợp các tổ chức, cá nhân trên địa bàn huyện Lạc Dương (Lang Biang là tên một ngọn núi thuộc địa bàn huyện Lạc Dương) – địa phương có vùng nguyên liệu cà phê arabica nổi tiếng cùng xây dựng, sử dụng nhãn hiệu chứng nhận “Cà phê Arbica Lang Biang” thành một nhãn hiệu có uy tín của cộng đồng những người trồng, sản xuất, chế biến, kinh doanh cà phê của địa phương.
Quy chế quy định rõ: UBND tỉnh Lâm Đồng là chủ sở hữu nhãn hiệu chứng nhận “Cà phê Arabica Lang Biang” và ủy quyền cho UBND huyện Lạc Dương được thực hiện các nhiệm vụ sau: Đăng ký xác lập quyền sở hữu đối với nhãn hiệu chứng nhận “Cà phê Arabica Lang Biang”; quản lý, kiểm soát việc sử dụng và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng nhãn hiệu chứng nhận “Cà phê Arabica Lang Biang” theo các quy định…”.

Người trồng chưa “mặn mà” với nguồn vốn tái canh cà phê

Đắk Lắk có diện tích cà phê vối nhiều nhất nước nhưng cũng là địa phương có diện tích cà phê già cỗi hết chu kỳ kinh doanh, sâu bệnh… nhiều nhất.
Mặc dù vậy, các hộ sản xuất cà phê ở Đắk Lắk lại chưa “mặn mà” với nguồn vốn tín dụng vay để tái canh cà phê nên việc tái canh cà phê vẫn còn chậm so với kế hoạch.
cay giong tai canh ca phe
Tái canh phải 3 đến 4 năm sau mới cho thu hoạch nên đời sống các nông hộ bị ảnh hưởng, dẫn đến việc đắn đo, cân nhắc trong tái canh.
Hiện nay, tỉnh Đắk Lắk có tổng diện tích cà phê trên 202.500ha, trong đó có trên 190.000ha cà phê kinh doanh cho thu hoạch với sản lượng khoảng 430.000 tấn cà phê nhân/niên vụ. Tuy nhiên, qua kiểm tra, đánh giá, diện tích cà phê già cỗi hết chu kỳ kinh doanh, sâu bệnh, năng suất thấp, hiệu quả kinh tế kém cần tái canh từ nay đến năm 2020 tăng lên khá cao, trên 30.442ha nên nhu cầu vốn đầu tư cũng khá lớn
Theo đánh giá của các đơn vị chức năng, mức đầu tư tái canh đã tăng lên từ 100-150 triệu đồng/ha; trong khi đó, quy định Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chỉ tham gia tối đa 80%, phần còn lại là vốn tự có của các hộ vì vậy dẫn đến việc các hộ thiếu vốn tái canh cà phê. Bên cạnh đó, việc tái canh phải 3 đến 4 năm sau mới cho thu hoạch nên đời sống các nông hộ bị ảnh hưởng, dẫn đến việc đắn đo, cân nhắc trong tái canh.
Mặt khác, các nông hộ, doanh nghiệp sản xuất cà phê ở Đắk Lắk cho rằng, mức lãi suất 9%/năm như hiện nay vẫn còn cao, thời gian hoàn vốn chỉ trong 7 năm là quá ngắn.
Ông Lê Thung, thôn 2, xã vùng sâu Ea Kpam (huyện Cư M’gar) có 2ha cà phê đã hết chu kỳ kinh doanh, năng suất kém nhưng vẫn không dám vay vốn ngân hàng để đầu tư tái canh cà phê.
Ông Thung cho rằng, khi thực hiện tái canh theo đúng quy trình kỹ thuật, sau 3 đến 4 năm mới cho thu hoạch mà trong thời gian chưa cho thu hoạch vẫn phải trả lãi cho ngân hàng, trong khi không biết giá cà phê có ổn định trong tương lai hay không.
Ngoài ra, các nông hộ sản xuất cà phê cũng khó tiếp cận với nguồn vốn vì phần lớn diện tích cà phê cần tái canh lại không nằm trong vùng quy hoạch, chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất…
Từ những thực tế này cho thấy, sau hơn 1 năm triển khai gói tín dụng tái canh cà phê trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk mới chỉ mới thu hút được 269 khách hàng tham gia vay gần 110 tỷ đồng để đầu tư tái canh, ghép cải tạo cho trên 730ha cà phê. Trong đó, các nông hộ vay trên 47,3 tỷ đồng còn lại là 6 doanh nghiệp vay trên 62,53 tỷ đồng.
Theo kế hoạch, từ năm 2013 đến năm 2016, tỉnh Đắk Lắk tái canh 25.625ha cà phê, với tổng nhu cầu vốn gần 4.650 tỷ đồng; trong đó, vốn tự có của khách hàng gần 1.650 tỷ đồng (chiếm 35,43%) vốn Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tham gia là 3.000 tỷ đồng (chiếm 64,57%).

Niên vụ 2013-2014 xuất khẩu cà phê sẽ đem về 3 tỷ USD

xuat khau ca phe viet nam

Ông Đỗ Hà Nam phó chủ tịch Vicofa dự báo xuất khẩu của Việt Nam sẽ đạt hơn 1,5 triệu tấn, kim ngạch 3 tỷ USD, tăng khoảng 20% so với năm 2013

Tính từ đầu niên vụ 2013-2014 (tháng 10-2013) đến nay, Việt Nam xuất khẩu được khoảng 700 tấn cà phê (chiếm 40% sản lượng dự báo), với giá xuất khẩu ở mức khá cao 2.000-2.200 USD/tấn. Dự báo quý II xuất khẩu cà phê tiếp tục thuận lợi và cả năm vẫn ở mức này.
Đây là năm thứ tư liên tiếp cà phê Việt Nam đạt đỉnh cao về sản lượng cũng như kim ngạch xuất khẩu trong hơn 30 năm qua.
Như vậy, trong 4 năm liên tiếp, ngành cà phê Việt Nam xuất khẩu hàng năm trên 1,2 triệu tấn cà phê nhân, đạt kim ngạch hàng năm trên 2,7 tỷ USD và giữ giá xuất khẩu ở mức 2.000 USD/tấn trở lên.

Khó khăn thách thức

Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được, ngành cà phê đang đứng trước một số khó khăn thách thức như: trong số 622.167 ha cà phê đang sản xuất của cả nước, hiện đang có khoảng 86 ha cà phê trên 20 năm tuổi (chiếm 15%); khoảng 140.000 ha từ 15 đến 20 năm tuổi (chiếm 25%).
Bên cạnh đó còn có các thách thức khác như chất lượng cà phê, xây dựng và phát triển thương hiệu để nâng cao giá trị cà phê, cạnh tranh trong chế biến và tiêu thụ cà phê hòa tan, rang xay…
Hơn thế, trong thời gian tới, khi một số thỏa thuận thương mại quốc tế bắt đầu có hiệu lực hoặc đàm phán xong như: Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC), Hiệp định Đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP), hiệp định thương mại Việt Nam – EU…, thì mặt hàng cà phê Việt Nam sẽ đối mặt với nhiều thách thức hơn.
Ngoài ra, còn 3 nhược điểm của ngành cà phê là mô hình sản xuất với quá nhiều hộ nhỏ, kinh doanh với quá nhiều doanh nghiệp và xuất khẩu chủ yếu là cà phê nhân…

Nhiệm vụ và giải pháp thời gian tới

Trước những thách thức này, Vicofa đề ra một số nhiệm vụ trọng tâm nhiệm kỳ 2014-2017, cụ thể như sau:
Tiếp tục kiến nghị Chính phủ sớm phê duyệt đề án phát triển bền vững cho ngành cà phê Việt Nam. Trong đó, diện tích khai thác ổn định ở mức 570.000 ha, nâng cao năng suất để giữ sản lượng khoảng 1,3 đến 1,4 triệu tấn, xuất khẩu trên 1 triệu tấn/năm. Giữ thị phần xuất khẩu cà phê nhân khoảng 17%; đề xuất các phương án tổ chức lại ngành cà phê để khắc phục 3 nhược điểm: sản xuất quá nhiều hộ nhỏ, kinh doanh quá nhiều doanh nghiệp, xuất khẩu chủ yếu cà phê nhân.
Triển khai chương trình tái canh cây cà phê: Về chất lượng, tăng cường tuyên truyền và khuyến khích người trồng, hái cà phê chín trên 80%. Đồng thời hướng các doanh nghiệp đưa ra mức giá thu mua cao hơn đối với loại cà phê có tỷ lệ chín cao để hỗ trợ và thay đổi thói quen không phù hợp làm giảm giá trị cà phê. Hướng người trồng cà phê và doanh nghiệp tập trung vào quy trình đầu tư thâm canh vườn cà phê và kết hợp với trồng cây che bóng và sản xuất cà phê chất lượng cao thực hiện quy trình sản xuất theo chứng chỉ cà phê 4C, UTZ, R.A.
Đẩy mạnh đầu tư chế biến cà phê rang xay, hòa tan để xuất khẩu nhằm nâng cao giá trị gia tăng cho ngành cà phê. Về thương mại, tăng cường xúc tiến thương mại nhằm mở rộng thị trường nhằm vào các thị trường mới nổi như Trung Quốc, Nhật Bản, ASEAN và Đông Âu; đồng thời đẩy mạnh việc tiếp thị và mở rộng tiêu thụ trong nước nâng mức tiêu thụ lên 15% tổng sản lượng cà phê trong 5 năm tới.
Vicofa cũng kiến nghị Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn sớm trình Chính phủ đưa chương trình tạm trữ cà phê trở thành chính sách thường xuyên của ngành. Đồng thời kiến nghị Bộ Tài chính thành lập Quỹ phát triển cà phê Việt Nam thay cho Quỹ bảo hiểm xuất khẩu cà phê.

Xuất khẩu cà phê Việt Nam tăng gấp rưỡi trong tháng 4

Theo số liệu do Tổ chức Cà phê Quốc tế (ICO) công bố mới đây, Việt Nam xuất khẩu được 2,45 triệu bao cà phê (loại 60kg) trong tháng 4/2014, tăng 48,5% so với cùng kỳ năm trước.
Tổng khối lượng xuất khẩu cà phê của Việt Nam trong 7 tháng đầu niên vụ 2013/2014 (tính từ tháng 10/2013 đến tháng 9/2014) lên 12,5 triệu bao, giảm nhẹ 3,5% so với cùng kỳ niên vụ trước.
xuat khau ca phe viet nam 04-2014
Theo số liệu của ICO, xuất khẩu cà phê Việt Nam 48,5% so với cùng kỳ năm trước.
Như vậy, Việt Nam đứng thứ hai thế giới về khối lượng xuất khẩu cà phê trong tháng 4, chỉ sauBrazil, nước đạt khối lượng xuất khẩu 3 triệu tấn (tăng 6,8% so với cùng kỳ). Tính trong 7 tháng đầu niên vụ này, Brazil cũng dẫn trước Việt Nam với khối lượng xuất khẩu đạt 20 triệu tấn (tăng 8,9% so với cùng kỳ).
Xuất khẩu của 2 quốc gia trên vượt xa các nước đứng sau như Colombia, có khối lượng xuất khẩu đạt 824 nghìn bao, Ấn Độ đạt 528 nghìn bao, Honduras đạt 480 nghìn bao, hay Indonesia đạt 450 nghìn bao.
Quốc gia đạt tốc độ tăng trưởng xuất khẩu mạnh nhất trong tháng 4 là Burundi với khối lượng đạt 6.000 bao, tăng 344% so với cùng kỳ.
Trong tháng 4, xuất khẩu cà phê của toàn thế giới đạt 10,3 triệu bao, tăng 4,6% so với cùng kỳ năm trước, đưa khối lượng xuất khẩu 7 tháng đầu niên vụ lên 63,4 triệu bao, giảm 3,4%.

Nâng cao giá trị sử dụng chỉ dẫn địa lý cà phê Buôn Ma Thuột

Cà phê nhân chủ yếu phục vụ xuất khẩu nên việc cà phê nhân có chỉ dẫn địa lý đã mang lại giá trị kinh tế lớn, giá trị gia tăng cao.
Sản phẩm cà phê Buôn Ma Thuột
Sản phẩm cà phê Buôn Ma Thuột
Tỉnh Đăk Lăk đã có 10 doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh cà phê được cấp quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý cà phê Buôn Ma Thuột trên tổng diện tích hơn 15.070ha, sản lượng mỗi năm đạt trên 46.620 tấn cà phê nhân trở lên.
Như vậy, chỉ dẫn địa lý Buôn Ma Thuột là trường hợp duy nhất trên thế giới được bảo hộ trong nước cho sản phẩm nhân cà phê vối (Robusta) và đang tiến hành các thủ tục đăng ký bảo hộ quốc tế tại 15 quốc gia, vùng lãnh thổ dưới hình thức chỉ dẫn địa lý hoặc tên gọi xuất xứ, nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu chứng nhận.
Theo Hiệp hội Cà phê Buôn Ma Thuột, sản phẩm cà phê nhân chủ yếu phục vụ xuất khẩu nên việc cà phê nhân có chỉ dẫn địa lý đã mang lại giá trị kinh tế lớn, giá trị gia tăng cao… tác động tích cực đối với nền sản xuất nông nghiệp, tạo việc làm trực tiếp và gián tiếp cho người lao động, bảo vệ môi trường, cảnh quan, đa dạng sinh học.
Công ty TNHH Một thành viên xuất nhập khẩu 2/9 Đăk Lăk là một trong những đơn vị tiên phong xuất khẩu các lô hàng cà phê nhân loại R1 mang chỉ dẫn địa lý cà phê Buôn Ma Thuột đầu tiên sang thị trường Nhật Bản và được các nhà nhập khẩu, các nhà rang xay Nhật Bản thu mua với giá cao hơn so với các sản phẩm cà phê nhân cùng loại nhưng không có chỉ dẫn địa lý.
Trong thời gian qua, Hiệp hội Cà phê Buôn Ma Thuột đã tập trung tạo ra mạng lưới liên kết giữa các nhà sản xuất, kinh doanh, cung ứng dịch vụ, nhà khoa học, nhà quản lý để tập huấn, hướng dẫn các hộ sản xuất cà phê theo đúng quy trình kỹ thuật từ khâu chọn vùng đất đến khâu trồng, chăm sóc, thu hoạch, chế biến để sản phẩm cà phê nhân đảm bảo chất lượng theo tiêu chuẩn, phù hợp với yêu cầu thị trường thế giới.
Đặc biệt, các đơn vị chức năng, các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh cà phê đã hướng dẫn cho các hộ trong vùng dự án từ bỏ thói quen sản xuất cà phê theo kinh nghiệm truyền thống sang sản xuất cà phê theo quy trình để đạt chứng nhận UTZ Certified, 4C, Rainforest Alliance, Fairtrade…
Tỉnh Đăk Lăk cũng khuyến khích các doanh nghiệp được cấp quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý gắn nhãn hiệu (logo) cà phê Buôn Ma Thuột lên bao bì, giấy tờ giao dịch để khách hàng nhận biết sản phẩm có chỉ dẫn địa lý và được hưởng các khoản tăng thêm do tạo được kênh thương mại sản phẩm mới đặc thù và quảng bá sản phẩm cà phê mang chỉ dẫn địa lý Buôn Ma Thuột có hiệu quả.
Hiện nay, tỉnh Đăk Lăk tiếp tục khuyến khích, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp, tổ chức sản xuất cà phê mang chỉ dẫn địa lý cà phê Buôn Ma Thuột đầu tư kinh phí hàng năm để xây dựng và phát triển, mở rộng vùng cà phê được cấp sử dụng, quản lý chỉ dẫn địa lý Buôn Ma Thuột.
Tỉnh Đăk Lăk cũng đề nghị Bộ Công Thương tác động, tạo điều kiện từ Chương trình hợp tác đa biên của dự án EU-MUTRAP giai đoạn 3 để Đăk Lăk được sự hỗ trợ từ dự án nội dung bảo hộ chỉ dẫn địa lý cà phê Buôn Ma Thuột sớm vào thị trường EU…
Tỉnh Đăk Lăk hiện có trên 203.500ha cà phê, sản lượng mỗi năm đạt từ 430.000 tấn cà phê nhân trở lên. Đây cũng là địa phương có nhiều diện tích, năng suất, sản lượng cà phê vối lớn nhất của Việt Nam.

Tìm giải pháp tái canh cà phê hiệu quả

Ngày 25-6, tại Công ty cà phê Thắng Lợi, Hiệp hội cà phê ca cao Việt Nam phối hợp với UBND tỉnh Đắc Lắc tổ chức Hội nghị sơ kết công tác tái canh cà phê vùng Tây Nguyên.
Hội nghị đánh giá kết quả công tác tái canh cà phê vùng Tây Nguyên trong 3 năm (2011-1013); đồng thời bàn những giải pháp tối ưu để áp dụng vào tái canh đại trà.
Theo báo cáo của Hiệp hội cà phê ca cao Việt Nam, đến hết năm 2013, cả nước có hơn 622 nghìn héc-ta cà phê, tập trung chủ yếu ở các tỉnh Đắc Lắc, Lâm Đồng, Đắc Nông, Gia Lai, Kon Tum với sản lượng đạt gần 1,4 triệu tấn.
Hiện nay, diện tích cà phê già cỗi hơn 20 năm tuổi khoảng 86 nghìn héc-ta, chiến 17,3% tổng diện tích. Ngoài ra còn có khoảng 40 nghìn héc-ta dưới 20 năm, nhưng đã có biểu hiện già cỗi, sinh trưởng kém, năng suất thấp. Tổng diện tích cà phê cần thay thế trong 5 đến 10 năm tới khoảng 140 đến 160 nghìn héc-ta. Thế nhưng, diện tích cà phê đã được tái canh còn rất thấp. Từ 2012 đến nay, ngoài Tổng Công ty Cà phê Việt Nam đã tái canh được trên 2.000 héc-ta bằng nguồn vốn của các doanh nghiệp và vốn vay.
Việc tái canh ở những vườn cà phê già cỗi do các hộ nông dân quản lý diễn ra rất chậm, nguyên nhân chính do nguồn vốn đầu tư cho tái canh cao, khoảng 150 triệu đồng/ héc-ta trong 3 năm đầu.
Tại hội nghị, các đại biểu đã thảo luận đưa ra một số kiến nghị với các bộ, ngành Trung ương và địa phương để việc thực hiện công tác tái canh cà phê trong thời gian tới đạt hiệu quả cao. Cụ thể, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cần sớm trình Đề án tái canh cà phê toàn diện để Chính phủ phê duyệt.
Đối với Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cần giảm lãi suất cho vay; đồng thời có biện pháp triển khai giải ngân có hiệu quả nguồn vốn gói tín dụng cho chương trình tái canh cà phê ở Tây Nguyên (khoảng 12 nghìn tỷ đồng) để người dân có vốn thực hiện công tác tái canh.
Bên cạnh đó, Viện Khoa học Nông – Lâm – Nghiệp Tây Nguyên cần tập trung nghiên cứu ra những giống cà phê mới có năng suất cao, kháng bệnh tốt; đồng thời tích cực phối hợp với các ban ngành tổ chức các buổi hội thảo chuyển giao khoa học, công nghệ để người trồng cà phê học hỏi kinh nghiệm và rút ra những phương pháp trồng và chăm sóc tốt nhất.
Các tỉnh cần rà soát lại quy hoạch diện tích trồng cà phê, đẩy mạnh công tác tuyên truyền để các hộ nông dân và doanh nghiệp nhận thức rõ việc tái canh cà phê là việc làm cần thiết và cấp bách; đồng thời có biện pháp hỗ trợ cho các hộ tái canh cà phê

Uống cà phê theo phong cách của người Êđê


Nhâm nhi một tách cà phê vào mỗi sáng thức dậy đã trở thành thói quen của rất nhiều người dân đô thị, đặc biệt là vào những ngày cuối tuần. Tuy nhiên, ít người biết rằng có một dân tộc thiểu số sống ở Đắk Lắk hay ở các tỉnh Tây Nguyên cũng có thói quen uống cà phê buổi sáng như vậy. Đó là người dân tộc Êđê. Nhưng kiểu uống của họ hoàn toàn khác với người Kinh.

4g sáng, lúc đại đa số mọi người còn đang ngủ thì người Ê đê lại say sưa bên cốc cà phê của mình. Chị H’ Diai (buôn M’ Grư, Xã Cư Xuê, huyện Cư Mgar, Đăk Lắk), một trong 4 người con gái trong gia đình dậy nhóm lửa đun bếp. Chị gái của chị thì vác gùi ra suối lấy nước, con suối cách nhà khoảng 5km. Có nước về, cả mấy mẹ con cùng nấu cơm, nhưng trước hết là pha cà phê cho cả đại gia đình 4 hộ gồm 16 người cùng uống.
Uống cà phê buổi sáng đã trở thành một thói quen sinh hoạt của hơn 195.000 người Êđê sinh sống ở Đắk Lắk chứ không riêng gì gia đình chị H’ Diai. Với họ, buổi sáng không có cốc cà phê thì cả ngày sẽ thấy không khỏe mạnh, không tỉnh táo để làm việc. Khác với người Kinh, những người phụ nữ Êđê phải dậy từ 3g sáng để rang xay cà phê, những hạt cà phê ngon nhất trong vườn nhà được hái riêng để dành uống trước khi xuất khẩu ra bất cứ nước nào trên thế giới.
Lúi húi bên cối giã cà phê khi trời còn mờ mờ sương lúc bình minh, chị H’ Năm Mê (Buôn M’ Grư, Xã Cư Xuê, huyện Cư Mgar, Đăk Lắk) cho biết: “Cà phê này nhà tự trồng, tự sản xuất, giã ra, lấy cà phê ngon nhất, cà phê chín nhất, lựa chọn rồi phơi khô, rang và tự xay; không pha bất cứ tạp chất gì, mà còn nguyên sơ cà phê của đồng bào dân tộc mình. Sáng sớm các chị em phụ nữ giống như tụi mình phải giã buổi sáng. Đây là một thói quen, nó không phải nghiện, bất cứ gia đình nào cũng phải uống cà phê. Mỗi lần giã khoảng 10kg uống dần”.
Thông thường, một gia đình 16 người sẽ cần đến khoảng 5 thìa to cà phê bột nguyên chất. Cà phê của họ rất đặc, không pha sữa hay hương liệu nào. Chỉ có cà phê đen sánh, nhưng có màu vàng như mật ong pha cùng với đường. Cái vị chát chát và đắng ngắt của cà phê nguyên chất có lẽ chỉ có người sành cà phê mới cảm nhận hết được vị ngon. Cà phê không pha bằng phin mà được cho vào những chiếc túi được làm bằng vải xô nhiều lớp, do những người phụ nữ tự khâu.
Chị H’ Diai cho biết về thói quen rất thú vị của người Êđê: Một ly cà phê nhỏ được chuyển qua tay nhiều người; nhiều người uống chung một ly mới vui, mới đoàn kết. Sự gắn kết cộng đồng của người Ê đê, một phần nào đó cũng được thể hiện trong cách uống là lạ này.
Không chỉ người lớn, mà trẻ em người Êđê đến 3 tuổi đã bắt đầu uống cà phê. Cà phê đã trở thành người bạn đồng hành cùng người Ê đê trong suốt cuộc đời. Mỗi buổi sáng, họ uống cà phê trước khi ăn bất cứ thứ gì vào bụng. Sau đó là bữa sáng, bữa cơm chính trong ngày. Đấy mới là lúc người phụ nữ có thời gian làm đẹp cho mình và người đàn ông chuẩn bị lên rẫy. Còn trẻ con với ly cà phê buổi sáng đã đem đến cho chúng đủ năng lượng để chạy nhảy cả ngày và đợi bố mẹ làm rẫy trở về. Hầu như nhà nào ở đây cũng đều trồng cà phê xuất khẩu.
Cà phê là nguồn thu nhập chính cho mỗi gia đình, nhưng nó còn gắn bó hơn thế, bởi uống cà phê đã trở thành một tập tục được tiếp nối từ đời này qua đời khác trong mỗi gia đình người Êđê.
Nguồn: VTV

Âm thanh kỳ lạ giữa núi rừng Tây Nguyên



Những thanh âm trầm hùng, huyền bí của tiếng cồng chiêng gắn bó mật thiết với đời sống của đồng bào các dân tộc ở Tây Nguyên. Người Tây Nguyên dùng tiếng cồng tiếng chiêng để diễn tả vẻ đẹp của thiên nhiên, để nói lên khát vọng của con người

Theo quan niệm của người Tây Nguyên, đằng sau mỗi chiếc cồng chiêng đều ẩn chứa một vị thần. Vào những ngày hội, hình ảnh những vòng người nhảy múa quanh ngọn lửa thiêng, bên những ché rượu cần trong tiếng cồng chiêng vang vọng núi rừng, tạo cho Tây Nguyên một không gian huyền ảo.

Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên trải rộng suốt 5 tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đăk Lăk, Đăk Nông, Lâm Đồng và chủ nhân của loại hình văn hóa đặc sắc này là đồng bào các dân tộc thiểu số: Bahnar, Xê đăng, M’nông, Cơho, Rơmăm, Êđê, Jrai... Cư dân Tây Nguyên không tự đúc được cồng chiêng, nhưng với đôi tai và tâm hồn âm nhạc nhạy cảm họ đã nâng giá trị của một sản phẩm hàng hóa thành một nhạc cụ trình diễn tuyệt vời.

 
Điều đặc biệt, cồng chiêng vốn là nhạc cụ đa âm, bên cạnh âm cơ bản bao giờ cũng vang kèm một vài âm phụ khác. Hơn thế, âm thanh cồng chiêng đạt đến một trình độ biểu cảm âm nhạc phù hợp với trạng thái, tình cảm của con người trong cuộc sống: Chiêng tang lễ hay bỏ mả thì chậm rãi, man mác buồn; chiêng mùa gặt thì thánh thót, vui tươi; chiêng đâm trâu thì nhịp điệu giục giã...
Mỗi năm, người Tây Nguyên còn tổ chức hàng trăm lễ hội: Nào là lễ cúng bến nước, lễ rước Kpal, lễ mừng lúa mới, lễ bỏ mả, lễ cúng sức khỏe cho khách, lễ đâm trâu, lễ cưới voi... Bất cứ mỗi một lễ hội nào cũng không thể vắng tiếng chiêng. Và mỗi khi nhạc chiêng vang lên thì cũng là lúc mỗi thành viên trong buôn làng vui vầy sum họp, là lúc cộng đồng xích lại gần nhau hơn.
Những thanh âm trầm hùng, huyền bí của tiếng cồng chiêng  gắn bó mật thiết với đời sống của đồng bào các dân tộc ở Tây Nguyên. Người Tây Nguyên dùng tiếng cồng tiếng chiêng để diễn tả vẻ đẹp của thiên nhiên, để nói lên khát vọng của con người
Không chỉ đơn thuần là một loại nhạc cụ thuần túy mà cồng chiêng còn được đồng bào Tây Nguyên cho là phương tiện để giao tiếp với thần linh. Ngoài ra, cồng chiêng còn được xem là thước đo cấp độ giàu sang của từng gia đình, dòng họ. Chính vì vậy, cồng chiêng luôn được đồng bào Tây Nguyên xem như là bảo vật.
Ở một số nước Ðông-Nam Á, cồng chiêng cũng rất phổ biến, nhưng về kỹ thuật sử dụng thì cồng chiêng Tây Nguyên có những nét đặc trưng riêng hoàn toàn khác biệt. Nếu như ở Lào, Indonesia hay Malaysia..., cồng chiêng được kết thành dàn và trở thành một loại nhạc cụ do một người diễn tấu thì trong diễn xướng cồng chiêng Tây Nguyên, mỗi người chỉ được đánh một chiêng, dàn chiêng có bao nhiêu cái thì có bấy nhiêu người đánh. Tuy nhiên, để diễn tấu hoàn thiện một bài chiêng thì đòi hỏi mỗi người, tuy đánh một cái chiêng nhưng bắt buộc phải "hiểu" các chiêng khác đánh như thế nào.
Âm thanh kỳ lạ giữa núi rừng Tây Nguyên

Tây Nguyên có nhiều tộc người, nhưng họ luôn hoà hợp lẫn nhau trong văn hoá cồng chiêng mà vẫn giữ được bản sắc văn hoá của dân tộc mình, không có hiện tượng loại trừ hay đồng hoá văn hoá của nhau trong sinh hoạt văn hoá cồng chiêng.
Âm thanh cồng chiêng  đem đến những cảm xúc rạo rực khó tả khiến người ta tìm đến nhau. Vào những ngày hội, hình ảnh những vòng người nhảy múa quanh ngọn lửa, bên những vò rượu cần trong tiếng cồng chiêng vang vọng núi rừng, tạo cho Tây Nguyên một không gian lãng mạn và huyền ảo.
Ngày nay, cồng chiêng Tây Nguyên không chỉ được dùng khu biệt trong các lễ hội của đồng bào bản địa mà đang được nhiều người, nhiều quốc gia biết đến qua hàng trăm buổi biểu diễn phục vụ các đoàn khách du lịch, khách quốc tế, và đi lưu diễn tại các nước như: Pháp, Nhật Bản, Thụy Ðiển, Madagasca... Ði đến đâu, tiếng chiêng Tây Nguyên cũng đều được hoan nghênh cổ vũ nồng nhiệt. Tại các buôn làng Tây Nguyên, khi du khách đến đây tất cả họ đều muốn thưởng thức một nhịp chiêng, nhịp cồng cùng với những điệu nhảy say đắm lòng người của những cô gái Ê Đê, M’nông bên cạnh những ánh lửa hồng giữa  núi rừng Tây Nguyên đại ngàn hùng vĩ.
 
Theo Đất Việt

khẩu vị cà phê của người Việt Nam


Gu cà phê tạo nên sắc độ văn hoá của từng địa phương. Người ta có thể nhìn vào cách uống, gu uống cà phê và nhận ra người đó là dân ở đâu. Tuy nhiên, với những thành phố lớn có nền văn hoá "hợp chủng", cà phê có nhiều sắc độ gu hơn.
Những sắc độ văn hoá ấy "biển dâu" bao lần từ thời cà phê theo chân người Pháp vào Việt Nam thời thuộc địa. Họ đã chọn cao nguyên Lâm Viên và Buôn Ma Thuột để phát triển loại cây này.


Người Việt thích cà phê đậm, đắng, mùi hạnh nhân, mùi đất.

Theo Sài Gòn Tiếp Thị, cà phê ở Việt Nam có hai giống chính là Arabica và Robusta. Arabica chỉ trồng được ở độ cao từ 800 mét trở lên so với mặt biển. Tuy nhiên phải ở độ cao từ 1.300-1.500 mét thì cà phê Arabica mới thực sự có giá trị. Còn những vùng thấp hơn, người ta trồng giống cà phê Robusta.

Giống cà phê Arabica với dòng cà phê Moka được nhiều người biết đến từ lâu. Cà phê Moka dầu Cầu Đất, Đà Lạt (khu vực Đơn Dương) thuộc giống Bourbon. Chính chất lượng độc đáo của nó đã làm nên tên tuổi cà phê Moka ở Việt Nam và cả ở nước ngoài. Cà phê Moka ngon, ngoài yếu tố giống, thổ nhưỡng, thì cách chế biến cũng quan trọng.

Theo ông Phạm Tấn Phát, giám đốc công ty cà phê vườn Đông Dương, Moka có mặt từ khi người Pháp sang Việt Nam. Nhưng đến thập niên 40-50 của thế kỷ trước, cư dân vùng Cầu Đất bắt đầu phát triển giống cây này theo kiểu cà phê vườn chứ không theo kiểu đại đồn điền.

Một ly cà phê ngon phải có những hương và vị tự nhiên. Có thể khi rang, người ta cho thêm chút ít bơ để tăng độ béo, thơm, không được cho những hương liệu phụ vào trong quá trình chế biến.
Độ chua (acidity) của cà phê phải thanh, tươi, sạch lưỡi. Người Âu thường chuộng độ chua, tuỳ giống cà phê mà trong vị chua của nó có mùi của hương các loại hoa, hoặc các loại trái cây. Độ dầu (body) cà phê khi cho vào đầu lưỡi sẽ có cảm giác béo và nặng trên đầu lưỡi. Độ béo này sẽ từ thanh nhẹ đến béo, dầu và đậm kẹo. Người Việt thường thích độ dầu đậm. Về hương thơm (aroma), cà phê có những hương của hạnh nhân, hoa trái, bơ dầu, mùi đất,… Tuỳ giống, cách thu hoạch, cách rang… sẽ cho mùi thơm đặc trưng riêng cho từng loại cà phê. Trong khi đó, vị đắng cà phê phải đắng thanh tự nhiên, không nhẩn, không chát, khét. 

Một số người vì lợi nhuận vẫn dùng nhiều loại hoá chất để tạo ra từ mùi đến màu... cho những loại cà phê chất lượng thấp, nhằm nâng hương vị mà những loại cà phê này không có. Người trong nghề còn cho biết một vài loại cà phê còn được bỏ những loại hoá chất riêng để mỗi lần uống cà phê đá thì bọt cà phê nổi không thua bọt bia, hoặc tạo màu cho cà phê đen đậm, đắng chát… Đây là cách giết khẩu vị của người thưởng thức, chưa kể những độc hại khác. Tách cà phê làm người ta tỉnh táo hơn, nhưng sau khi uống ly cà phê mà tim đập loạn xạ như trống trận, chóng mặt, hoa mắt… do hoá chất gây nên kể như hỏng, thà đừng uống còn hơn.

Để đạt được khẩu vị riêng, người ta có thể pha hai hoặc nhiều loại cà phê với nhau như Arabica pha cùng Robusta hoặc cùng những giống cà phê khác. Đây chính là những bí quyết riêng, là sự hấp dẫn của thức uống này, mà mỗi nơi có một tỷ lệ pha trộn sao cho khẩu vị ly cà phê của mình ngon nhất, độc đáo nhất. 
Cách chế biến cà phê Moka theo hương vị nào phụ thuộc vào cách thu hoạch. Nếu thu khô, tướt hạt toàn bộ trái trên cây, sau đó phơi cho khô rồi cà lấy nhân. Cà phê thu hoạch cách này hạt sẽ chuyển màu hơi nâu đất. Lúc đó, mùi thơm của cà phê sẽ có mùi của đất, của lá cây mục thật độc đáo.

Trong khi đó, nếu thu ướt, chỉ lựa hái toàn trái cà phê đã chín, sau đó cà bỏ ngay phần cơm để lấy nhân. Hạt cà phê này đã già nên rất chắc. Cách này sẽ cho hạt cà phê màu trắng. Và hạt cà phê còn lớp vỏ trấu bên ngoài sẽ giúp chất dầu trong hạt càng ngấm đều hơn. Hương vị của nó còn giữ nguyên mùi của hoa, trái, hạnh nhân, bơ dầu đặc biệt của cà phê.

Rang cà phê là một trong những công đoạn quan trọng và có những bí quyết riêng. Tuỳ giống cà phê mà người ta rang với độ lửa và thời gian thích hợp. Cây cà phê càng ở trên cao thì cho hạt càng chắc. Và chính độ chắc hạt giúp cho cà phê khi rang chịu được độ lửa cao, thời gian rang lâu hơn. Cà phê Arabica đáp ứng được điều này. Nhờ độ lửa cao mà hạt cà phê rang sẽ đạt tới mức của nó. Tuỳ ý muốn cà phê có độ đậm nhiều hay ít mà người ta canh lửa. Lúc tiếng hạt cà phê bắt đầu nổ đều lần đầu là hạt cà phê đã được, nhưng để đậm đà hơn, người ta tiếp tục rang cho đến lúc hạt nổ lần nữa.
Thời gian hạt nổ lần hai cách lần đầu chỉ vài mươi giây và phải canh sao kết thúc rang trước khi hạt im tiếng nổ. Vì khi hạt im tiếng có nghĩa là cà phê đã khét. Gu của người Việt thích uống cà phê đậm nên thường rang kiểu này. Có thể những ly cà phê đá, cà phê sữa đá độc chiêu kiểu Việt Nam đã bắt đầu chinh phục người nước ngoài một phần nhờ vào cách rang cà phê đậm kiểu này chăng.


Ngày trước, những tiệm bán cà phê thường rang tại chỗ. Chiếc thùng quay bằng sắt đã thấm dầu và khói, bóng màu theo năm tháng. Người thợ rang vừa quay thùng, vừa kiểm tra bằng cách ngửi mùi, nhìn khói và nghe tiếng nổ của hạt. Rang cà phê cũng như nấu rượu, yếu tố thời tiết như độ ẩm, áp lực không khí… sẽ ảnh hưởng đến chất lượng mẻ cà phê. Hiện nay thiết bị rang cà phê rất tối tân được điều khiển bằng chương trình. Nhưng theo một số nhà sản xuất cà phê thì vẫn phải kết hợp cái "cảm" của người rang cùng thiết bị mới đảm bảo cho ra mẻ cà phê tới độ.

Theo Caphedao

Ly cà phê


Cuộc sống gấp gáp, cuộc đời tất bận cũng phải chậm lại, dừng bước. Từng giọt cà phê nhỏ chậm rãi, thong thả hơn cả chiếc lá vàng cuối cùng. Gió heo may đã về, se sẽ lạnh.
ly cafe  Ly cafe
Lặng im như đếm nhịp thời gian, nghe rõ từng khoảnh khắc nặng nề rơi, làm sao lấy lại được.
Có gì quyến rũ đến vậy trong màu nước tối thẫm và thăm thẳm như đêm đông? Từng giọt, từng giọt ánh đen, rụng cuống như sương. TRong giọt ấy đắng chát thì nhiều, ngọt bùi là có mấy. Có phải giọt cà phê ấy rơi xuống là những “giọt” đời nặng trĩu, đọng mãi đáy lòng…
Từ rất lâu, chuyện uống cà phê đã trở thành một trong những thú vui tao nhã trong cuộc sống bận rộn hàng ngày. Nhiều thế kỷ trôi qua, cà phê vẫn mang lại sự kích thích giúp bạn tỉnh táo hơn, dù bạn đang ngồi ở một chân trời nào đi chăng nữa…
Có lẽ những quán cà phê là nơi bạn có thể tự do nhất để suy nghĩ và phát biểu. Chính nhờ những lần tán ngẫu nhau bên ly cà phê mà nhiều người trong chúng ta đã ngộ ra nhiều triết lý về cuộc sống, cách sống.
ly cafe  Ly cafe
Sự yên lặng và quân bình dường như đều tập trung ở đây, bên ly cà phê với bạn chúng ta đã học được những gì?… Cuốn sách “Bên Ly Cà Phê Cuộc Sống Nói Gì?” sẽ giúp bạn lý giải điều này…
Đơn giản là hưởng thụ giây phút ấy – có lẽ đó là một nguyên tắc để hài lòng với cuộc sống chăng?
Tản mạn xung quanh ly cà phê giúp cuộc sống của bạn thêm phong phú, vui vẻ và đầy nhiệt huyết. Những ảnh hưởng tích cực, những chiến thuật thực tiễn và những kỹ năng tạo cảm hứng mà chúng ta đang bàn ở đây đều nhằm mục đích giúp bạn ý thức đầy đủ về cuộc sống để sống trọn vẹn và cảm thấy yêu đời mỗi ngày khi thức dậy.
Nào, hãy thưởng thức một ly cà phê mình ưa thích trong lúc chúng ta chiêm nghiệm những nguyên tắc trong tản mạn cà phê.
Theo my.opera.com

Tản mạn cà phê bình dân


Cà phê – cái chất kích thích không biết ra đời từ khi nào, do ai phát hiện ra mà nó khiến cho bao nhiêu người một khi đã thưởng thức thì không thể quên được hương vị đặc trưng của nó.
Tôi không nhớ lần đầu tiên mình uống cà phê là khi nào. Cách đây hơn 15 năm về trước, khi còn là một cậu học trò nhỏ, tôi được xem bộ phim “Cô chủ nhỏ” trên truyền hình, bộ phim nói về việc đấu tranh của những người nô lệ da đen trong đồn điền cà phê nhằm giải phóng thân phận của mình. Từ lúc đó khái niệm về “cà phê” bắt đầu hình thành trong tôi.
văn hóa cà phê đà nẵng văn hóa cà phê tản mạn cà phê  Tản mạn cà phê bình dân
Trải qua bao nhiêu năm, rời xa gia đình để đi học, sống và làm việc ở thành phố Đà Nẵng, ấn tượng về cà phê vẫn luôn theo tôi trong suốt cuộc hành trình dài đó.
Nói đến Đà Nẵng, người ta thường nghĩ ngay đến một thành phố trẻ năng động ở khu vực miền Trung, là nói đến Non Nước, Bà Nà, là bán đảo Sơn Trà hay những công trình nổi tiếng như cầu Sông Hàn, cầu Thuận Phước,… Nhưng, một khi đến thăm Đà Nẵng rồi, một trong những điều để lại trong lòng mọi người đậm nét, đó chính là nét văn hóa thưởng thức cà phê của người Đà Nẵng.
Đà Nẵng có rất nhiều quán cà phê, có người nói rằng “phải mất vài năm mới có thể ngồi hết các quán cà phê ở đây”. Tôi đã từng sống ở Huế, Hà Nội và có dịp ghé qua nhiều địa phương khác trong cả nước, nhưng tôi nghĩ rằng ít có địa phương nào mà số lượng quán cà phê lại dày đặc như ở Đà Nẵng. Nếu có con số thống kê, tôi dám chắc rằng con số đó phải lên đến hàng nghìn. Khách uống cà phê thuộc đủ thành phần, từ cán bộ công chức, trí thức, sinh viên cho đến những người công nhân, người dân lao động, tất cả đều tự tìm cho mình niềm vui mỗi khi thưởng thức ly cà phê theo khẩu vị riêng.
Có thể nói, uống cà phê là cái thú và cũng là nét văn hóa không thể thiếu của người dân Đà Nẵng. Cà phê không phải là thức uống thông thường, là một loại giải khát, lại càng không phải thức uống giải sầu như rượu bia, mà cà phê chính là chất xúc tác, là gạch nối giữa nỗi buồn và niềm vui của con người, là nơi giao lưu, gặp gỡ bạn bè, nơi bàn bạc công việc…
Trên khắp các nẻo đường của Đà Nẵng, từ những trục phố chính cho đến những ngõ hẽm sâu, từ những khu vực nhộn nhịp nhất cho đến những khu vực dân cư thưa thớt, thậm chí bên cạnh những công trình đang thi công, không nơi nào thiếu bóng dáng của những quán cà phê.
Tôi chưa có điều kiện để thưởng thức cà phê ở tất cả các kiểu quán cà phê ở Đà Nẵng, ở đây tôi chỉ nêu những ấn tượng của mình về loại hình cà phê bình dân – nơi gắn với đại bộ phận người dân Đà Nẵng.
Các quán cà phê có phong cách bày trí khác nhau, nhưng nhìn chung loại cà phê bình dân này được bố trí một cách đơn giản. Thường chủ quán sử dụng hệ thống âm thanh, màn hình ti vi để nghe nhạc, xem phim, bàn ghế thường dùng là ghế nhựa hoặc gỗ. Ở gần các cơ quan, công trường, thậm chí quán cà phê chỉ đơn giản là che tạm tấm bạt, đặt mấy bộ bàn ghế, khách vừa uống và thả mình với khung cảnh tự nhiên.
Âm nhạc là yếu tố không thể thiếu được để tạo nên phong cách riêng của từng quán. Có một số quán chọn cho mình những thể loại nhạc riêng, có thể là dòng nhạc nhẹ, trữ tình; cũng có thể là dòng nhạc trẻ, nhạc rock với những âm điệu sôi nổi, phù hợp với tuổi trẻ. Tùy theo sở thích, tâm trạng của mình, bạn có thể chọn cho mình những dòng nhạc phù hợp.
Với tính chất bình dân (về phong cách, về giá cả) nên phong cách phục vụ cũng giản đơn. Những quán cà phê tạm bợ (còn gọi là cà phê cóc), việc phục vụ khách có khi chỉ một người lo phục vụ hết từ khâu pha chế đến dọn dẹp chỗ ngồi. Cũng có nhiều quán cà phê có một đội ngũ phục vụ đông đảo, chuyên nghiệp, trong số đó phải kể đến các thương hiệu cà phê Long, cà phê Phố,…
Nhiều quán đã tạo lập được thương hiệu của mình với các bí quyết pha chế riêng, làm cho khách một khi đã uống rồi thì rất khó quên, để trở thành những khách quen thuộc. Nếu bạn là khách quen của quán, tôi nghĩ chủ quán và nhân viên sẽ nhớ được khẩu vị của bạn, mỗi lần bạn đến thì bạn sẽ không cần gọi, tự quán sẽ đưa cho bạn ly cà phê mà bạn thích.
Với đa số người dân Đà Nẵng, đi uống cà phê là những khoảnh khắc được thư giãn, giải trí, được nghỉ ngơi, lấy lại tinh thần sảng khoái sau những căng thẳng, mệt mỏi. Chỉ với ly cà phê là đã có thể tạo nên những cuộc hội ngộ. Chính vì vậy quán cà phê đã trở thành điểm hẹn, nơi giao lưu hội đủ phong cách. Nếu bạn không có thời gian thì có thể nói với chủ quán cho mình một ly cà phê pha sẵn. Có thời gian, bạn có thể vừa ngồi uống cà phê nói chuyện với bạn bè, hay đọc báo, truy cập Internet… . Còn nữa, nếu lần đầu tiên đến Đà Nẵng, bạn bắt gặp hình ảnh một cô gái hay một nhóm các cô gái ngồi uống cà phê thì cũng đừng bất ngờ. Ở Đà Nẵng, uống cà phê là của tất cả mọi người, không phân biệt nam hay nữ.
Quán cà phê cũng là nơi phản ánh rõ nét bộ mặt của Đà Nẵng. Ở đó, chúng ta bắt gặp những hình ảnh thân quen của cuộc sống đời thường: đó là hình ảnh những người bán vé số, bán báo, đánh giày, người bán những thứ hàng hóa lặt vặt…; đó là hình ảnh của những người rao bán đồ ăn khi về đêm; đó cũng là nơi bắt đầu, nuôi dưỡng tình yêu cho biết bao cô gái, chàng trai; đó là nơi các thành viên trong gia đình tụ tập bên nhau vào dịp cuối tuần; đó cũng là góc riêng cho những ai xa quê, khi nhớ về những người thân yêu nơi phương xa. Quán cà phê, ly cà phê dường như là cầu nối cho tất cả mọi người xích lại gần nhau hơn.
Ly cà phê từ lúc nào không hay đã trở thành một người bạn thân thiết của tôi. Ly cà phê cũng là cầu nối cho tôi thêm yêu mảnh đất, con người Đà Nẵng hơn.
văn hóa cà phê đà nẵng văn hóa cà phê tản mạn cà phê  Tản mạn cà phê bình dân
http://danangcity.gov.vn

Cà phê phin một thú chơi độc đáo


Người Việt Nam dùng cà phê theo cách rất riêng, mỗi vùng và mỗi độ tuổi thưởng thức cà phê theo kiểu khác nhau. Gu thưởng thức cũng không theo chuẩn mực nào.
văn hóa uống cafe văn hóa cafe việt nam  Cafe phin một thú chơi độc đáo
Có người thích một cốc nâu đá pha sẵn đặc quánh ngọt lừ, có người chỉ say mê những giọt cà phê thong thả rơi từ chiếc phin cũ, lại có người thích uống cà phê đánh ực như uống một liều thuốc “tỉnh người”. Nhưng phải công nhận một điều là cảm giác thư giãn nhìn người ta rót nước sôi xong ngồi chờ cà phê nở ra ngấm nước rồi chắt lọc từng giọt rơi xuống rất đặc biệt. Khoảnh khắc đó đem lại cho người ta thưởng thức một khoảng không gian riêng. Thời gian như được kéo giãn ra nhiều lần. Người Việt uống cà phê buổi sớm, buổi trưa, buổi tối, khi buồn, khi suy tư, khi stress công việc hay chỉ vì thói quen không thể bỏ.
văn hóa uống cafe văn hóa cafe việt nam  Cafe phin một thú chơi độc đáo
Cà phê phin xuất hiện ở mọi ngóc ngách trên từng con phố, từ chỗ thật bình dân sát góc tường ngồi xổm cho đến những quán cửa kính sành điệu với những nhân viên phục vụ trong bộ đồng phục rất “pro” và người uống phải trả giá gấp 5-7 lần để uống một phin cà phê quen thuộc. Người đàn ông trong văn chương gọi cà phê là hiện thân của sự khát khao. Họ ngồi chờ cà phê rơi từng giọt như đếm phút chờ người yêu, nhâm nhi từng ngụm nhỏ như trải nghiệm từng khoảnh khắc đắng chát ngọt bùi của cuộc đời.
Bỗng chốc bừng tỉnh thoát khỏi mùi thơm mê hoặc của thứ thức uống dịu kì đó bởi những tiếng lách cách leng keng của muỗng, của ly. Một tách cà phê phê phin hiện diện cho sự sảng khoái thư giãn, đồng thời là cái thèm khát thú an nhàn hiếm hoi trong đời sống thị thành. Tuýp phụ nữ cá tính mạnh hay nhiệt huyết với công việc thường tìm đến những giải pháp tương đối an toàn để giảm Stress.
Thay cho trà đặc và thuốc lá có thể làm vàng răng và khô cuống họng, cà phê vừa dễ uống lại an toàn hơn. Những cô gái rock thường thích cà phê đá không đường. Với họ cà phê là thức uống mạnh mẽ, cá tính đa, kết hợp và cho họ những hưng phấn, bốc đồng ở mức độ có thể kiểm soát được…
Theo CATP

Văn hóa cafe nơi đất mũi Cà Mau


Thưởng thức cà phê không đơn thuần là để giải trí, mà cà phê còn là một nét văn hóa không thể thiếu của nhiều người, trong đó có người dân Cà Mau. Khi cuộc sống ngày càng bận rộn thì vai trò của cà phê càng trở nên quan trọng hơn trong đời sống thường nhật, nhất là đối với giới mày râu. Cà phê không chỉ để giải khát mà nó đã trở thành một “nét văn hóa ẩm thực” đa tính cách.
văn hóa uống cafe coffee vietnam  Văn hóa cafe nơi đất mũi Cà Mau
Ngày nay, với sự cạnh tranh khốc liệt, quán cà phê mọc lên vô số, với rất nhiều loại hình khác nhau, cách trang trí, bày biện cũng phong phú, độc đáo, tạo nên một không gian văn hóa. Tuy nhiên “văn hóa cà phê” ở Cà Mau có những đặc trưng riêng. Có những quán cà phê chỉ uống một lần, khách khó có thể quên được. Thử dạo quanh trên các đường phố như Nguyễn Trãi, Ngô Quyền, Phan Ngọc Hiển, Nguyễn Tất Thành… chỉ tính riêng cà phê có đến vài trăm quán. Từ cà phê cóc, vỉa hè dành cho giới bình dân, đến cà phê phòng lạnh, ca nhạc, đờn ca tài tử, hát với nhau, cà phê sân vườn, cà phê võng và có cả cà phê “đèn mờ” dành cho những cặp tình nhân…
văn hóa uống cafe coffee vietnam  Văn hóa cafe nơi đất mũi Cà Mau
Ngay trung tâm thành phố Cà Mau có rất nhiều những quán cà phê sân vườn được trang trí rất đặc trưng Nam bộ.
văn hóa uống cafe coffee vietnam  Văn hóa cafe nơi đất mũi Cà Mau
Quán cà phê Tâm Giao rất thích hợp cho những người có tuổi, không thích những nơi ồn ào, sôi động, họ thường tìm đến những góc quán có không gian trầm lắng, nhẹ nhàng, thông thoáng để trải lòng với những tách cà phê, đắm mình trong những ca khúc dịu êm, hoặc hòa mình với thiên nhiên thư thái bên giỏ lan, hồ cá…
Thành phố Cà Mau đi chưa mỏi chân đã hết, vậy mà có số lượng quán cà phê nhiều như vậy, cho thấy người dân Cà Mau “nghiện” cà phê đến dường nào. Một số quán cà phê ca nhạc, ca tài tử thu hút nhiều khách như quán cà phê Tụ điểm sinh hoạt văn hóa (Trung tâm VHTT tỉnh Cà Mau), ở đây, hàng đêm đều có chương trình nghệ thuật với sự tham gia của các ca sĩ, nghệ sĩ, tài tử nhạc công đến từ các đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp.
Khách cũng có thể tham gia vào chương trình hát cho nhau nghe, đây là một loại hình hoạt động văn hóa, văn nghệ mang tính xã hội hóa rất hiệu quả. Không những thế, ngay trung tâm thành phố có những quán cà phê vườn nổi tiếng như: Tâm Giao, Đào Viên, Hùng Vương, bờ hồ Vân Thủy… mỗi quán đều có một phong cách kiến trúc riêng để thu hút khách. Bên cạnh những quán cà phê vườn dân dã là những quán cà phê máy lạnh sang trọng như: Mai Vàng, Ánh Nguyệt, Hoàng Gia, Besst…
văn hóa uống cafe coffee vietnam  Văn hóa cafe nơi đất mũi Cà Mau
Cà phê máy lạnh, khách thường là những doanh nhân, trí thức, họ đến vừa thưởng thức cà phê, vừa họp bàn công việc.Quán cà phê ở Cà Mau lúc nào cũng đông khách, nhất là về đêm, thành phố Cà Mau càng sôi động và náo nhiệt hơn. Những quán cà phê như: Đông Phương, Thái Thịnh, Sử… (đường Nguyễn Trãi, P.9); Thanh Hùng (quán chùa, P.2), cà phê 24, Tân (P4), Xưa & Nay (P.6, P.9)… khách nườm nượp.
Khách ở đây đa số là thanh niên, họ thường đi theo nhóm. Còn những quán cà phê máy lạnh, khách thường là những doanh nhân, họ đến vừa thưởng thức hương vị cà phê, vừa họp bàn công việc. Những người đàn ông có tuổi, người mang nhiều tâm sự hoặc sống hướng nội không thích những nơi ồn ào, sôi động, họ thường tìm đến những góc quán có không gian trầm lắng, nhẹ nhàng, thông thoáng trong ngõ sâu hoặc trên những con phố vắng người để trải lòng với những tách cà phê, đắm mình trong những ca khúc dịu êm hoặc hòa mình với thiên nhiên thư thái bên giò lan, hồ cá…
văn hóa uống cafe coffee vietnam  Văn hóa cafe nơi đất mũi Cà Mau
Quán cà phê sân vườn với đủ loại trái cây rất hấp dẫn du khách Dân “cà phê” ở Cà Mau trăm người trăm ý, nhưng có chung cái “gu” cafe, đó là đa số chỉ thích uống cà phê chế biến tại quán, những loại cà phê bột chế biến sẵn có thương hiệu lại ít khi dùng. Những quán có tiếng đều có bí quyết chế biến cà phê riêng, làm cho khách hàng “nghiện” luôn hương vị cà phê của quán mình. Thưởng thức cà phê mỗi người với mức độ “ghiền” khác nhau tùy theo lứa tuổi, tùy theo sức khỏe. Nhưng cũng có người không ghiền cà phê mà ghiền quán, nghiền chỗ ngồi, và tất nhiên là ghiền bạn.
Bên cạnh những lợi ích cho sức khỏe, cà phê còn là một nét văn hóa độc đáo, là nơi giao lưu gặp gỡ bạn bè, là nơi bàn bạc công việc hoặc đọc báo buổi sáng. Tất cả đã trở thành thói quen không thể thiếu của người dân nơi thành phố trẻ cuối trời Nam.
Theo Báo ảnh Đất Mũi

Thưởng thức cà phê như thế nào cho đúng


  • Để có thể thưởng thức đầy đủ mùi vị từ hạt cà phê, người thưởng thức phải nắm rõ phương pháp.Người thưởng thức cũng cần phải biết một số thuật ngữ đặc trưng dùng để mô tả các cảm nhận về vị, hương… để tìm ra sự phối hợp mùi vị tốt nhất cũng như cần nắm rõ những nguyên nhân làm giảm chất lượng cà phê.
    Phương pháp, cách thức kĩ thuật nếm cà phê

    Việc uống cà phê thật sự là một nghệ thuật.
    Hạt cà phê có đến hơn 800 đặc điểm mùi vị khác nhau mà chúng ta có thể nhận biết trong khi đó rượu vang đỏ chỉ có khoảng 400 đặc điểm mùi vị. Nếm cà phê cũng tương tự như nếm rượu vang. Việc uống cà phê thật sự là một nghệ thuật. Người sành sỏi về cà phê ưa thích hơn là loại cà phê rang sấy nhẹ tức hạt cà phê sau khi rang có màu nâu mùi thơm, cà phê rang càng đậm càng mất nhiều mùi vị. Cách thức nếm cà phê bao gồm chuẩn bị, rót ra tách … đều phải chuẩn hóa và giống nhau trong tất cả các lần nếm để đảm bảo không để các tác nhân ngoại lai như lượng cà phê, nhiệt độ nước ảnh hưởng đến hương vị. Cách thức tiến hành được thực hiện như sau:

    - Chọn loại hạt cà phê

    - Cân lấy khoảng 7gram bột cà phê xay thô

    - Nấu 140 gram nước gần sôi

    - Chế nước gần sôi lên cà phê, dịch chuyển dòng nước rót vào theo vòng tròn

    - Nhúng muỗng vào tách ( kề mũi sát tách) 

     - Lấy nửa muỗng hỗn hợp

    - Uống xì xụp nửa muỗng. Tiếng xì xụp càng to thì lượng không khí trộn lẫn vào nước cà phê càng nhiều càng giúp cảm nhận rõ hơn cà phê.

    - Thưởng thức nhưng sau đó nhổ nhanh ra ngoài.

    Sử dụng cách này, lưỡi của chúng ta có khả năng phân biệt giữa nhiều mùi vị cà phê khác nhau. Mỗi vùng trên lưỡi có khả năng cảm nhận nhiều mùi vị khác nhau. Phần dưới của lưỡi phân biệt được độ đắng. Hai bên lưỡi phân biệt được tình trạng chất lượng. Đầu lưỡi phân biệt được nhiều vị thơm khác nhau

    Các thuật ngữ hay dùng diễn tả đặc điểm tiêu biểu của cà phê

    Một người sành cà phê phải biết cách diễn tả cảm nhận, mùi vị một cách cụ thể.
    Biết cách nếm cà phê vẫn chưa đủ. Một người sành cà phê phải biết cách diễn tả cảm nhận, mùi vị một cách cụ thể. Sau đây là những thuật ngữ diễn tả đặc điểm tiêu biểu của cà phê:

    Hương vị: mùi của cà phê hạt

    Mùi thơm: mùi của cà phê xay

    Độ đậm: cảm nhận hương vị cà phê trong miệng. Chính xác nó là cảm giác đậm nhạt và độ sánh của cà phê.

    Độ ngậy, đâm đà: Cà phê không chỉ có độ đậm sánh và hương vị mà còn là cảm giác béo vị bơ (crema trong cà phê espresso)

    Độ dịu, êm: cà phê dịu, thấm, không gắt, ít chua và thanh tao

    Độ acid, độ chua: đây chính là cảm hứng, sức sống của cà phê. Cà phê Arabica nổi tiếng vì mang đặc điểm này

    Vị chua: Vị chua là đặc điểm mà những người sành cà phê mong muốn nhất ở tách cà phê của mình. Nước dùng để pha cà phê có thể ảnh hưởng đến đặc điểm này. Nếu nguồn nước có tính kiềm được dung để pha cà phê, tính chua sẽ mất đi rất nhiều. Nước tinh khiết, nước lọc thường được dung để pha cà phê như vậy sẽ giữ được nhiều tính chất chua.

    Nhưng nguyên nhân làm giảm chất lượng cà phê

    Cà phê được trữ lạnh hoặc nóng quá lâu cũng nhạt và đôi khi không còn hương vị đặc trưng của nó nữa.
    Người rang cà phê cũng như các nhà sản xuất rất chú trọng đến cách thức làm việc một cách chuyên nghiệp đối với cà phê trong các nhà hàng hoặc khách sạn. Chỉ cần có một lỗi nhỏ cà phê sẽ mất hẳn đi chất lượng của nó.

    Nếu cà phê nhạt hoặc không có vị thì đó là do cà phê được rang quá yếu lửa, it áp xuất khi nấu hay cũng có thể do bạn đã cho quá ít cà phê khi pha, nung với nhiệt độ không đủ nóng. Cà phê được trữ lạnh hoặc nóng quá lâu cũng nhạt và đôi khi không còn hương vị đặc trưng của nó nữa.

    Nếu cà phê có vị không tròn, gắt hoặc có vị lạ: ly, tách đựng cà phê dơ, các loại xà bông rửa ly, tách là nguyên nhân chính dẫn đến tình trang này. Ngoài ra, việc xay cà phê không đúng cách, cho ít cà phê, chất lượng hột cà phê xấu, nhựng cặn bã bám trong máy nấu cà phê, nước nấu cà phê bị nhiễm bẩm… cũng là nguyên nhân gây ra tình trạng này.  

    Cà phê đắng: đó là do hạt cà phê khi rang đã bị cháy, dao của máy xay quá cùn, cũng có thể do nước pha cà phê có độ vôi cao. 

    Cà phê chua:  nguyên nhân chính đó là rang ở nhiệt độ thấp và kỹ thuật rang quá sơ xài. 

    Cà phê không tạo bọt: Nhiệt độ nước quá cao ( bọt trở thành nâu), nhiệt độ quá thấp ( bọt trắng), cũng có thể do áp xuất thấp, ly đựng cà phê dơ bẩn, nước pha cà phê có quá nhiều chất vôi…
    Khang Di
    Theo passionforcoffee

Đặc điểm hương vị cafe


    Đặc điểm hương vị cafe

  • Đặc điểm hương vị của các loại Cafe
    Càfê Moka đặc biệt: Moka là một giống cafe được người Pháp di thực từ những năm 30 của thế kỉ trước. Trồng ở độ cao 1700m, hương vị rất đặc biệt, sang trọng ngây ngất cho người sành điệu (gout châu âu cổ điển) - phương pháp chế biến : thủ công, 
    - màu nước : nâu cánh gián, 
    - cách pha chế : pha máy, pha phin, túi lọc... 

    Càfê Moka Côlômbia: Hương thơm đặc trưng cho moka côlômbia kết hợp với mùi vị béo của bản thân bơ trong hạt càfê được giữ lại do phương pháp rang đặc biệt 
    - phương pháp chế biến : thủ công, 
    - màu nứơc : nâu lợt, bọt càfê được lọc và nổi lên trên rất hấp dẫn,
    - cách pha chế : pha máy là tốt nhất, có thể pha phin uống với sữa tươi... 
    Càfê Mo-Rhum: Sự kết hợp giữa hương vị của moka với thoáng nhẹ mùi của rượu rhum Pháp, uống nhiều có cảm giác say nồng rất dễ chịu. 
    - phương pháp chế biến : thủ công, dây chuyền bán tự động,
    - màu nước : nâu, 
    - cách pha chế : pha máy, pha phin ,túi lọc... 
    Càfê Mo-Nes: Vẫn là sự kết hợp tuyệt vời của moka Đà Lạt với mùi nhẹ của hoa hồi Trung Hoa mà châu Âu gọi là mùi Nes, nó kích thích người ta dùng rồi lại muốn dùng thêm ly thứ 2,3 mới đã . 
    - phương pháp chế biến : thủ công, dây chuyền bán tự động,
    - màu nước : nâu, 
    - cách pha chế : pha máy, pha phin ... 
    Càfê Mo-Cappu: Hương thơm có mùi thoáng nhẹ bơ càfê. Vị đậm với hàm lượng chất kích thích(cafein) cao 
    - phương pháp chế biến : thủ công, 
    - màu nước : nâu lợt,
    - cách pha chế : pha máy, pha phin ...

    Càfê Ro-Rhum: Ngoài hương thơm nồng nàn của càfê, Ro-Rhum còn có vị hậu ở khoang miệng và cổ họng rất thú vị, hương vị cứ lưu luyến mãi mặc dù hớp càfê đã uống xong từ bao giờ. 
    - phương pháp chế biến : thủ công, 
    - màu nước : đen sánh vừa, 
    - cách pha chế : pha phin, túi lọc... 
    Càfê Ro-Nes: Có mùi của tử đinh hương thơm lâu vùng vòm họng. Làm cho người thưởng thức nửa muốn nuốt xuống nửa muốn lưu giữ lại khoang miệng để "nghe" thêm một chút xíu nữa, một mùi hương thật khó quên. 
    - phương pháp chế biến : dây chuyền bán tự động, 
    - cách pha chế : pha phin và đặc biệt tốt dùng túi lọc... 

    Càfê Ro-Cappu: Là sự kết hợp giữa phong cách uống châu Âu và châu Á. Vị đậm nhưng hương lại rất quyến rũ, rất thích hợp cho người uống nhiều lần trong ngày. 
    - phương pháp chế biến : thủ công, 
    - màu nước: nâu đen,
    - cách pha chế: pha phin... 

    Càfê Ðà Lạt: Hương thơm và vị rất ngon, đậm đà thể chất, càfê uống xong vẫn để lại dư âm trong miệng cứ thơm mãi. Đây là loại càfê mà người tiêu dùng Đà Lạt rất ưa chuộng. 
    - phương pháp chế biến : thủ công, 
    - màu nước : nâu đậm hơi sánh,
    - cách pha chế : pha phin... 

    Càfê Siêu Cấp: Trong quá trình chế biến, hãng Bosscafe đã nghiên cứu tạo ra độ keo sánh bằng cách cô đọng chất tan và chất dễ bay hơi trong càfê để tạo cho quý khách một cảm giác tận cùng của càfê. Đắng nhưng hậu ngọt và thực sự sảng khoái. 
    - phương pháp chế biến : dây chuyền bán tự động,
    - màu nước : nâu đen sánh, 
    - cách pha chế : pha phin...Càfê Darkess: Vị rất đậm, uống để tạo ra cảm giác lâng lâng, bồng bềnh cho ta liên tưởng tới những ý tưởng sáng tạo mới, hương thơm nhẹ nhàng quyến rũ 
    - phương pháp chế biến : dây chuyền bán tự động, 
    - màu nước : đen sánh, 
    - cách pha chế : pha phin...
    Nguồn: Sưu tầm